Useful Gibberish

Posts tagged ‘classical music’

Thế nào là một bản Overture

Linkos-overture

Tôi đã từng nghe từ Overture ở đâu đó? À nhớ rồi, ở trong Biên niên kí chim vặn giây cót.

Sau là định nghĩa trong Britanica:

Musical composition, usually the orchestral introduction to a musical work (often dramatic), but also an independent instrumental work. Early operas opened with a sung prologue or a short instrumental flourish, such as the trumpet “Toccata” that opens Claudio Monteverdi’s Orfeo (1607). Subsequent 17th-century operas were sometimes preceded by a short instrumental piece called a sinfonia or sonata. The first significant use of a full-scale overture, however, was made by Jean-Baptiste Lully, in works such as his opera Thésée. His musical form, known as the French overture, opens with a slow section in dotted rhythms, followed by a quick section in fugal, or imitative, style; it often concluded with a slow passage that sometimes was expanded into a full third section—either a repetition of the initial slow section or a dance form such as a minuet or gavotte.

Lully’s overture form was widely copied, by composers of not only opera (Henry Purcell in Dido and Aeneas) but also oratorios (G.F. Handel in the Messiah). Lully’s use of a dance form to conclude an overture influenced the development of the orchestral suite, in which a French overture is followed by a series of dances. J.S. Bach’s four orchestral “Overtures” are examples of this form of suite, which persisted into the mid-18th century.

The Italian overture became firmly established after 1680 in the operas of Alessandro Scarlatti. It is in three sections, the first and third in quick time and the second in slow time (allegro-adagio-allegro). It provided the model for the earliest symphonies, which consisted of three movements. The works of both C.P.E. Bach and Jiří Antonín Benda contain Italian overtures.

A more modern form of the opera overture was established by Christoph Gluck, who in the dedication of his opera Alceste (1767) declared that the overture should prepare the audience for the plot of the play. In Alceste and in Iphigénie en Tauride, the overtures, instead of closing before the curtain rises, merge into the music and the mood of the opening act. Richard Wagner used a similar technique, though only in his later operas, such as Tristan und Isolde. Mozart in his overtures also set the emotional tone of the drama to follow. In his Don Giovanni and Die Zauberflöte (The Magic Flute) he alludes to themes from the operas. Similar thematic anticipation occurs in the works of Beethoven, Wagner, and Carl Maria von Weber.

hoặc theo wikipedia:

Overture (French ouverture, meaning opening) in music is the instrumental introduction to a dramatic, choral or, occasionally, instrumental composition. During the early Romantic era, composers such as Beethoven and Mendelssohn began to use the term to refer to instrumental, programmatic works that presaged genres such as the symphonic poem.

Vậy nếu chuyển thể sang tiếng Việt, ta có thể hiểu overture là một khúc nhạc khởi đầu cho một vở nhạc kịch, hoặc một bản giao hưởng. Nếu là một người khoái Classic nhưng lại không đủ kiên nhẫn để nghe nguyên một bản nhạc kịch (một bản giao hưởng hoặc một bản nhạc kịch thường khá dài, có thể dài bằng thời gian chiếu một phim thời hiện đại ngày nay) thì nên chọn Overture để nghe, những bản OverTure mang phong cách như những bản “tóm tắt” cho toàn bài giao hưởng, hoặc đối với một bộ phim, thì nó là một bản nhạc “tóm tắt cảm hứng” trước khi credit xuất hiện, thường thì là một bản rút gọn của OST (Original Sound Track), nhưng vì OST thường đã ngắn rồi (khoảng 4 phút) nên Overture trong phim không mang tính “thưởng thức” cao như Overture của các tác phẩm Classics.

Khuyến mãi một bản overture của MozartThe magic flute. Tải ở đây.

Advertisements

Hồ Thiên Nga

Hồ thiên nga là một vở ba lê gồm 4 hồi do Tchaikovsky, một nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng người Nga, sáng tác nhạc. Tuy vậy, ta nên để ý là đoạn ngày nay thường được nghe không phải là bản gốc mà là một bản được sửa lại. Đầu tiên, vào năm 1877, Hồ thiên nga lần đầu tiên được biểu diễn tại Mát xcơ va, hầu như chẳng ai hiểu và hưởng ứng bản Ba lê này.

“Khi đó Julius Reizinger, biên đạo múa của Nhà hát Lớn đã sử dụng âm nhạc truyền thống – âm nhạc chỉ là phần nền cho các nhịp điệu, động tác, và âm nhạc chỉ đóng vai trò thứ yếu. Kết quả thử nghiệm không thành công và “Hồ thiên nga” bị quên lãng trong một thời gian khá lâu.”

Đến gần 20 năm sau, Tchaikovsky mới được nổi tiếng, công nằm ở biên đạo múa Ivanov (chính xác là Marius Petipa và Lev Ivanov) năm 1895, phần hồn, tinh tế và lãng mạn của tác phẩm mới được nêu bật lên, và trở nên bất hủ. ( Hay đến nổi được cóp bỏ vào khúc đầu của Còn Ta Với Nồng Nàn)

“Trên thực tế, dàn dựng của Ivanov không hoàn toàn sử dụng âm nhạc của Tchaikovsky, nhạc sĩ Rikardo Drigo đã trích những sáng tác của Tchaikovsky cùng với âm nhạc của ông cho vở ballet này. “Hồ thiên nga” của Drigo mang nhiều nét cổ tích và huyền thoại hơn.”

Vở ba lê một phần dựa trên một câu chuyện dân gian Nga mang tên Con Vịt Màu Trắng. Truyện như sau.. once upon a time… một ông vua phải đi đến một nơi xa trong một thời gian, để người vợ mới cưới ở nhà. Ông cẩn thận dặn vợ là phải ở trong cấm cung, không được đi ra ngoài để nghe phải những điều không tốt. Một bà già đã nhử được nàng vào trong vườn, và trong hồ nước, biến nàng thành một con vịt trắng và mụ già đội lốt nàng thành hoàng hậu, vị vua về mà không hay biết gì.
Trong lúc ấy, con vịt trắng làm một cái ổ nhỏ và đẻ ra ba quả trứng, nở ra 3 con, 2 vịt lông mượt mà trắng trẻo và một con vịt đực đen đúa xấu xí. Vịt mẹ cảnh báo các con phải tránh xa lâu đài boiử vì ở đó có mụ phù thủy gian giảo độc ác, nhưng một ngày kia, mụ phú thủy trong thấy chúng, và dụ chúng vào trong lâu đài. Hai con vịt xinh xắn thì bị ngủ thiếp đi, nhưng con vịt xấu vẫn thức. Mụ phù thủy hỏi chúng đã ngủ chưa, thì con vịt xấu xí ( gọi là xí vịt nhá) trả lời, sau hai lần hỏi, mụ vào trong kiểm tra thì thấy hai con mĩ vịt ngủ, và mụ đã giết chúng.
Vịt mẹ thấy xác hai con thì rên rỉ khóc than. Vị vua bỗng tò mò và ra lệnh bắt lại, mặc cho mụ phù thủy ra sức thuyết phục ông đó chỉ là chuyện nhảm nhí. Nhưng hầu cận của ông không tài nào bắt được, thế là ông đích thân đi bắt, hiển nhiên là không tốn công sức gì, vịt mẹ bay vào lòng ông, và biến thành người vợ, người vợ bảo với vua về một lọ nước thần ở trong tổ vịt, họ lấy nước đó xịt (rắc, rưới, tưới ?) lên 2 con mĩ vịt và con xí vịt, thế là chúng trở thành 3 đứa bé xinh xắn (mĩ nít ). Mụ phù thủy bị giết.
Thế thôi, ý tưởng là ở đó, còn ồ Thiên Nga còn dài hơn kia, và nó là một bi kịch chứ không phải đẹp như một fairy tale. Toàn bộ tác phẩm như sau: (không dám type lại sợ sai lắm)
Act 1

No. 1 Scène: Allegro giusto
No. 2 Waltz: Tempo di valse
No. 3 Scène: Allegro moderato
No. 4 Pas de trois

I. Intrada (or Entrée): Allegro
II. Andante sostenuto
III. Variation: Allegro semplice, Presto
IV. Variation: Moderato
V. Variation: Allegro
VI. Coda: Allegro vivace

No. 5 Pas de deux for Two Merry-makers (this number was later fashioned into the Black Swan Pas de Deux)
No. 6 Pas d’action: Andantino quasi moderato – Allegro
No. 7 Sujet (Introduction to the Dance with Goblets)
No. 8 Dance with Goblets: Tempo di polacca
No. 9 Finale: Sujet, Andante

Act II

No. 10 Scène: Moderato
No. 11 Scène: Allegro moderato, Moderato, Allegro vivo
No. 12 Scène: Allegro, Moderato assai quasi andante
No. 13 Dances of the Swans

I. Tempo di valse
II. Moderato assai
III. Tempo di valse
IV. Allegro moderato (this number later became the famous Dance of the Little Swans)
V. Pas d’action: Andante, Andante non troppo, Allegro (material borrowed from Undina)
VI. Tempo di valse
VII. Coda: Allegro vivo

No. 14 Scène: Moderato

Act III

No. 15 Scène: March – Allegro giusto
No. 16 Ballabile: Dance of the Corps de Ballet and the Dwarves: Moderato assai, Allegro vivo
No. 17 Entrance of the Guests and Waltz: Allegro, Tempo di valse
No. 18 Scène: Allegro, Allegro giusto
No. 19 Grand Pas de six.

I. Intrada (or Entrée): Moderato assai
II. Variation 1: Allegro
III. Variation 2: Andante con moto
IV. Variation 3: Moderato
V. Variation 4: Allegro
VI. Variation 5: Moderato, Allegro semplice
VII. Grand Coda: Allegro molto

* Appendix I: Pas de deux for Mme. Anna Sobeshchanskaya fashioned from the original music by Léon Minkus (AKA the Tchaikovsky Pas de Deux)

No. 20 Hungarian Dance: Czardas – Moderato assai, Allegro moderato, Vivace

* Appendix II: Russian Dance for Mlle. Pelageya Karpakova: Moderato, Andante semplice, Allegro vivo, Presto

No. 21 Spanish Dance: Allegro non troppo (Tempo di bolero)
No. 22 Neopolitan/Venetian Dance: Allegro moderato, Andantino quasi moderato, Presto
No. 23 Mazurka: Tempo di mazurka
No. 24 Scène: Allegro, Tempo di valse, Allegro vivo

Act IV

No. 25 Entr’acte: Moderato
No. 26 Scène: Allegro non troppo
No. 27 Dance of the Little Swans: Moderato
No. 28 Scène: Allegro agitato, Molto meno mosso, Allegro vivace
No. 29 Scène finale: Andante, Allegro, Alla breve, Moderato e maestoso, Moderato

Bản nhạc nổi tiếng mà chúng ta thường nghe về Swan Lake nói về cái chết của con thiên nga, cái chết của cái đẹp, bi tráng, da diết và bùng nổ trong cố gắng làm đẹp cho đời lần cuối của thiên nga.

Tag Cloud

%d bloggers like this: